Blog thông tin kiến thức về các lĩnh vực như: làm đẹp, sức khoẻ, thời trang, công nghệ, nuôi dạy con, tìm gia sư uy tín... do cộng đồng tham gia đóng góp và phát triển.
[PR]上記の広告は3ヶ月以上新規記事投稿のないブログに表示されています。新しい記事を書く事で広告が消えます。
Hội chứng Down là một chứng bệnh liên quan tới rối loạn về di truyền, do sự bất thường trong nhiễm sắc thể gây ra. Về cơ bản, người bình thường có tổng cộng 46 nhiễm sắc thể (chia thành 23 cặp nhiễm sắc thể), trong đó có một nửa là đến từ cha, một nửa còn lại là di truyền từ mẹ, mỗi nhiễm sắc thể lại chứa đựng những gen cần thiết cho sự phát triển của cơ thể. Trong khi đó cơ thể bệnh nhân mắc hội chứng Down lại phát sinh thừa thêm một nhiễm sắc thể thứ 21, nâng tổng số nhiễm sắc thể lên 47, dẫn đến sự bất thường trong cấu trúc nhiễm sắc thể.
Theo phân tích của các chuyên gia, phần nhiễm sắc thể thứ 21 thừa ra có thể có mặt ở mọi tế bào ở trạng thái thuần. Một số trường hợp có thêm bản sao của một số gen thuộc nhiễm sắc thể 21 nhưng không phải trên tất cả các tế bào của cơ thể. Hiện tượng này còn gọi là hội chứng Down dạng khảm và người mắc chứng này thường không có các dấu hiệu của bệnh Down cũng như không bị ảnh hưởng quá nghiêm trọng về trí tuệ.
Đối với trường hợp Down do di truyền, nhiễm sắc thể thứ 21 thừa ra sẽ tồn tại trong trạng thái chuyển đoạn giữa nhiễm sắc thể thứ 21 và 14, hoặc giữa nhiễm sắc thể 21 và 21, 21 và 22.
Trẻ sinh ra mắc hội chứng Down thường có những đặc điểm rất rõ ràng thể hiện trên gương mặt cũng như cơ thể. Không chỉ vậy, trẻ còn chậm khả năng phát triển tri thức, khuyết tật trí tuệ từ nhẹ cho tới trung bình. Cùng với đó là các vấn đề về sức khỏe khác như dị tật tim bẩm sinh, rối loạn tiêu hóa, ung thư máu…
Câu trả lời là có, nhưng trên thực tế chỉ có 5% và xảy ra ở các trường hợp thai nhi mang nhiễm sắc thể chuyển đoạn từ bố hoặc mẹ. Ngoài ra khoảng 0,7% tỷ lệ di truyền bệnh Down do người mẹ có tiền sử mang thai và sinh nở con bị bệnh Down.
Các trường hợp có người thân là ông bà, anh chị, cô dì đã sinh con mắc hội chứng Down, khả năng di truyền cho con bạn là rất thấp, không có khả năng xảy ra.
Việc biến đổi nhiễm sắc thể là nguyên nhân gây hội chứng Down ở trẻ. Vậy yếu tố gì khiến các nhiễm sắc thể bị biến đổi?
Nguyên nhân chung khiến các nhiễm sắc thể bị biến đổi thường thường là do người mẹ mang thai và sinh con khi tuổi đã cao (sau 35 tuổi). Tuổi càng cao, khả năng cơ thể phân chia nhiễm sắc thể trong quá trình phân chia tế bào trứng bị ảnh hưởng, dễ gây sai sót và dẫn đến nguy cơ thai nhi bị hội chứng Down.
Cụ thể:
Tuy chỉ có tỷ lệ 0,7/100 lần sinh nở, nhưng những người mẹ từng sinh con bị hội chứng Down có thể gặp phải tình trạng này ở lần thứ 2 sinh nở.
Nhiễm sắc thể chuyển đoạn dẫn đến tinh trùng hoặc trứng mang nhiễm sắc thể bất thường. Khi kết hợp với trứng, tinh trùng có nhiễm sắc thể bình thường vẫn tạo ra khả năng thai nhi bị Down.
Sự bất thường trong cấu trúc nhiễm sắc thể ở giao tử (tinh trùng hoặc trứng) là lý do khiến thai nhi bị mắc hội chứng Down. Cụ thể những dạng nhiễm sắc thể bất thường sau sẽ dẫn đến nguy cơ gây bệnh Down:
Hội chứng Down hiện nay vẫn chưa có cách điều trị. Để ngăn ngừa nguy cơ thai nhi trong bụng mẹ bị hội chứng Down, cha mẹ cần hết sức lưu ý trước khi đưa ra quyết định mang thai.
Kiểm tra thai nhi từ sớm là cách tốt nhất để cha mẹ có thể phát hiện con có bị hội chứng Down hay không từ khi còn ở trong bụng mẹ.
Thời gian chuẩn đoán thai nhi tốt nhất là từ 11 tuần 6 ngày đến 13 tuần 6 ngày. Các bác sĩ sẽ tiến hành các giải pháp siêu âm thai do độ sáng gáy bào thai, hoặc xét nghiệm máu của mẹ khi thai được 14-17 tuần tuổi. 2 kết quả trên nếu trả về dương tính, người mẹ sẽ được chọc hút nước ối khi thai từ 17-18 tuần tuổi để thử tế bào có dư nhiễm sắc thể 12 hay không, trước khi đưa ra kết quả chính xác về thai nhi.
Nếu kết quả trả về là đúng, gia đình cần đưa ra quyết định loại bỏ thai nhi hoặc không vì giai đoạn này thai nhi đang ở mức cân nặng 200g, không ảnh hưởng đến cơ thể người mẹ khi loại bỏ.
Việc tính tuổi thai cụ thể ít nhiều khẳng định đến kết quả xét nghiệm và nâng cao khả năng phát hiện hội chứng Down ở thai nhi sớm hơn. Cần thường xuyên khám thai theo định kỳ, để được các bác sĩ kiểm tra và đưa ra phán đoán cụ thể.
Hiện nay, tình trạng trẻ bị mắc chứng bệnh tự kỷ ngày càng nhiều khiến không ít các bậc phụ huynh cảm thấy lo lắng, e ngại vì chưa thể tìm ra một phương án tốt nhất, hiệu quả nhất nhằm hỗ trợ cho con yêu của mình. Trẻ bị tự kỷ không chỉ thua kém các bé cùng trang lứa về thể chất, trí tuệ, sức khỏe mà còn là gánh nặng của gia đình và xã hội. Chính vì vậy, vấn đề cấp bách cần đặt ra là làm sao để có thể khắc phục điều trị sớm nhất giúp bé tái hòa nhập cộng đồng ngay khi có thể.
Chú ý dấu hiệu nhận biết sớm trẻ tự kỷ theo từng giai đoạn để can thiệp kịp thời chính là nội dung bài viết mà chúng tôi sẽ chia sẻ, chuyển tải và cung cấp tới cá vị phụ huynh hôm nay, mong rằng đây sẽ là kiến thức nền tảng nhất giúp bạn có phương án chăm sóc nuôi dạy trẻ tự kỉ đúng cách hơn.
Trẻ tự kỷ ở Việt Nam đang có xu hướng tăng nhanh. Bệnh tự kỷ nếu được phát hiện kịp thời thì cơ may hết bệnh trở như trẻ bình thường.
Tùy theo nguyên nhân gây bệnh và mức độ bệnh nặng nhẹ khác nhau mà có phác đồ điều trị phù hợp, cụ thể như sau:
Sự can thiệp của y học
Các bác sĩ chỉ định bổ sung các vitamin cần thiết cho trẻ bằng cách cân bằng chế độ ăn để giúp trẻ giảm được những chấn động lên hệ thần kinh. Ngoài ra, một số trường hợp sử dụng thuốc chống suy nhược và thuốc bổ thần kinh để giúp trẻ ổn định.
Liệu pháp giao tiếp
Điều chỉnh hành vi của trẻ
Với nội dung kiến thức liên quan tới việc chú ý dấu hiệu nhận biết sớm trẻ tự kỷ theo từng giai đoạn để can thiệp kịp thời vừa được chúng tôi đề cập, hi vọng các bậc làm cha làm mẹ có thể chủ động đề ra một phương án chăm sóc bé tốt hơn trong thời gian tới.
Dạy trẻ học toán theo phương pháp Finger Math là cách tính toán cộng trừ trong phạm vi từ 0 đến 99 chỉ với đôi bàn tay. Đây được xem là phương pháp tính toán siêu nhanh như máy tính thường dành cho trẻ tiểu học và trẻ không cần phải đặt bút tính nhẩm mà vẫn cho kết quả nhanh chóng, chính xác. Đặc biệt, khi bước vào lớp 1, trẻ phải bắt đầu làm quen với Toán học nên gặp nhiều khó khăn trong các phép toán cộng trừ. Tuy nhiên, đối với phương pháp Finger Math sẽ giúp trẻ biết cách cộng trừ một cách thành thạo mà không cần phải ghi nhớ nhiều.
Vậy thì hôm nay hãy cùng tìm hiểu xem lợi ích và cách dạy trẻ học toán theo phương pháp Finger Math đơn giản mà hiệu quả nhất nhé.
Finger Math là chương trình toán học chỉ với đôi bàn tay, trẻ sẽ được học cách tính nhẩm cộng trừ trong phạm vi từ 0 tới 99.
Phương pháp học toán Finger Math đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Úc… Chương trình này áp dụng cho trẻ mẫu giáo và tiểu học khá thành công.
Theo phương pháp học toán truyền thống, ở cấp tiểu học, học sinh lớp 2, 3 cộng trừ rất chậm khi con số vượt qua đơn vị 10. Trẻ chỉ được dạy đếm từ 1 đến 10 tương ứng với 10 ngón tay. Nhưng với phương pháp Finger Math, trẻ có thể đếm đến 30, 50 hay 99 rất dễ dàng.
Finger Math giúp phát triển bán cầu não cân bằng do sự phối hợp nhịp nhàng giữa tư duy và hoạt động cơ thể. Ngoài ra cách học toán này còn có thể giúp bé cộng trừ nhiều số cùng lúc một cách đơn giản, miễn sao kết quả của chuỗi cộng trừ đó không vượt quá 100.
Thao tác tính toán của Finger Math dựa vào các ngón tay nên cần sự phối hợp nhịp nhàng giữa hoạt động cơ thể với tư duy. Điều này sẽ giúp cho 2 bán cầu não hoạt động cân bằng, giúp trẻ yêu thích môn toán, không còn sợ tính toán.
Có thể nói đây là phương pháp hiệu quả đối với tất cả các bé, đặc biệt là các bé chậm và yếu khi học toán.
Tác dụng của phương pháp Finger Math còn nằm ở chỗ trẻ có thể cộng trừ liên tiếp nhiều số có hai chữ số với nhau và kết quả giữa các số nhỏ hơn 100. Kết quả cho được luôn chính xác, vì cách làm cực kì đơn giản và không hề đòi hỏi tư duy hơn mức bình thường ở trẻ.
Phương pháp dạy con học toán này giúp bé tính toán nhanh hơn, chuẩn xác hơn. Con có thể vừa học vừa chơi và cảm nhận toán học đơn giản và thú vị hơn bao giờ hết
Trẻ học toán dễ dàng nhờ phương pháp Finger Math theo 3 quy ước dưới đây.
Quy ước của bàn tay trái (đại diện cho hàng chục)
Số 10: ngón trỏ, số 20: ngón giữa, số 30: ngón áp út, số 40: ngón út, số 50: ngón cái. Tiếp tục lặp lại thêm một lần nữa ta sẽ có số 60: ngón trỏ, số 70: ngón giữa, số 80: ngón áp út, số 90: ngón út.
Vậy để biết số có 2 chữ số ở hai số khác nhau ta sẽ dùng tay phải cho chữ số hàng đơn vị, ghép với tay trái ở chữ số hàng chục.
Ví dụ: Số 1: ngón trỏ (bàn tay phải) + số 10: ngón trỏ (bàn tay trái) = số 11.
Quy ước của bàn tay phải (đại diện cho hàng đơn vị)
Số 1: ngón trỏ, số 2: ngón giữa, số 3: ngón áp út, số 4: ngón út, số 5: ngón cái. Tiếp tục lặp lại thêm một lần nữa ta sẽ có số 6: ngón trỏ, số 7: ngón giữa, số 8: ngón áp út, số 9: ngón út. Chú ý rằng khi chuyển từ số 4 qua số 5 trẻ phải nắm các ngón tay 1,2,3,4 lại.
Quy ước bàn tay phải, bàn tay trái
Bàn tay phải đại diện cho chữ số hàng đơn vị, bàn tay trái đại diện cho chữ số hàng chục. Quy ước bàn tay phải trong phương pháp Finger Math là nền tảng giúp trẻ đếm số thành thạo.
Quy ước trong phép trừ
Khi đã thu về hết các ngón ở hàng đơn vị thì ta thu tiếp ngón ở hàng chục. Khi ngón hàng chục thu về thì đồng thời các ngón hàng đơn vị phải bung ra.
Lưu ý: khi thực hiện trừ và cộng đối với số có 2 chữ số , ta thực hiện trừ và cộng hàng chục trước, sau đó mới thực hiện trừ và cộng hàng đơn vị.
Ví dụ : 38 + 61, ta thực hiện 38+60 trước, sau đó mới cộng thêm 1. Tương tự: 72- 49, ta thực hiện 72-40 trước, sau đó mới trừ thêm 9.
Quy ước trong phép cộng
Khi đã bung hết các ngón ở hàng đơn vị thì ta bung tiếp ngón ở hàng chục. Khi ngón hàng chục bung ra thì đồng thời các ngón ở hàng đơn vị phải thu lại.
Như vậy, thông qua bài viết trên có thể thấy rằng, dạy trẻ học toán theo phương pháp Finger Math sẽ giúp dễ dàng thực hiện các phép cộng trừ và cảm thấy việc học toán trở nên hứng thú hơn. Bên cạnh đó, việc học toán theo phương pháp này còn mang lại hiệu quả cao hơn nếu cha mẹ biết cách khiến việc học các ngón tay thành những trò chơi thú vị.
Các chuyên gia giáo dục sớm cho biết, việc sử dụng cả 2 bán cầu não cùng lúc có thể tăng gấp nhiều lần năng lực não bộ trong hoạt động hàng ngày cũng như học tập. Cuộc khảo sát do tổ chức này thực hiện nhận thấy chìa khóa giúp học sinh ở các nước tiên tiến như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore thông minh và thành công vượt trội chính là nhờ biết cách điều khiển cả 2 bán cầu não khi học tập và nghiên cứu.
Người thiên về não trái thường:
Bán cầu não trái thống trị suy nghĩ chúng ta theo khuynh hướng logic và mang tính phân tích. Người chịu sự chi phối nhiều của bán cầu não trái thường có khuynh hướng thiên về phân tích, suy luận. Đôi khi, họ khá mâu thuẫn với chính mình do những chiều hướng suy nghĩ chồng chéo, đan xen nhau. Họ trội hơn người khác khi thực hiện các phép tính toán, công thức và kỹ năng sử dụng ngôn ngữ…
Người thiên về não phải thường:
Những người chịu ảnh hưởng nhiều bởi bán cầu não phải có khuynh hướng thiên về trực giác và giàu trí tưởng tượng. Họ có cái nhìn tổng thể, thích thú với các mẫu vẽ, hình dạng, kích thước… Những người có não phải phát triển thường thiên về nghệ thuật như ca hát, hội họa, văn chương, điêu khắc…
Não phải và trái cũng thống trị và phân loại chúng ta theo hai kiểu suy nghĩ hội tụ và phân kỳ. Người suy nghĩ theo kiểu hội tụ tiếp cận vấn đề một cách hệ thống và thường đặt ra những quy luật. Họ sẽ phân tích mọi thứ và đưa ra kết luận rất logic. Đây là những người rất giỏi các dạng câu hỏi trực tiếp, trắc nghiệm… Ngược lại, người suy nghĩ theo kiểu phân kỳ rất sáng tạo, bỏ ngoài tai những quy luật. Họ có tính cách nghệ sĩ, khuynh hướng yêu nghệ thuật và muốn tự do bày tỏ cảm xúc bản thân. Nói như vậy không có nghĩa những người thuận não trái hoặc não phải sẽ không sử dụng phần não còn lại. Đừng quên tìm hiểu thêm các kỹ năng cho bé khác nhé!
Bán cầu não trái với chức năng suy nghĩ logic, phân tích, lý giải, ghi nhớ, sắp xếp, tính toán. Bán cầu não phải gắn liền với khả năng sáng tạo, tưởng tượng, trực cảm cao. Thực tế hiện nay, 90% các môn học tại trường phổ thông đòi hỏi trẻ sử dụng bán cầu não trái nhiều. Trong trường hợp một đứa trẻ thuộc tuýp mạnh về bán cầu não phải thì khả năng tiếp thu của bé sẽ bị hạn chế nếu được dạy bằng phương pháp thông thường. Khi đó bé sẽ bị phê bình là “Tiếp thu chậm” hoặc “Kém thông minh vì điểm Toán thấp”…
Thông thường, một người chỉ sử dụng hết 5% dung lượng não trái, còn ở các nhà thông thái là 10%. Người càng lười đọc sách, ngại tìm tòi học hỏi sẽ không tận dụng hết năng lực của não bộ, dẫn đến hệ lụy là tư duy kém, suốt ngày quanh quẩn với những chuyện vặt vãnh, suy nghĩ tiêu cực. Trong khi những người thành đạt hầu hết đều có khả năng vận dụng tốt cả 2 bán cầu não. Ở họ hội tụ cả khả năng tư duy logic, hợp lý, sắp xếp tính toán giỏi, nói năng sắc sảo, trình bày lưu loát, viết hay và có nhân cách tốt.
Cuộc nghiên cứu của tổ chức Adam Khoo Learning Centre còn ghi nhậnSingapore là một trong những quốc gia đầu tiên ở châu Á áp dụng thành công phương pháp “Whole Brain Learning” giúp thắp sáng cả 2 bán cầu não. Giới chức giáo dục của đất nước này luôn chú trọng phát triển nguồn nhân lực và đã thành công trong việc đào tạo một đội ngũ nhân sự trí tuệ, hùng mạnh giúp quốc đảo Singapore nhỏ bé vươn lên “hóa rồng” như hiện nay.
Cách riêng, các chuyên gia giáo dục cho rằng phương pháp Whole Brain Learning phát huy hiệu quả rất cao nếu biết cách áp dụng trong việc học từ vựng hay cấu trúc ngữ pháp tiếng Anh thông qua các bước như sau:
– Visualization (nâng cao sức mạnh của sự hình dung): Khi học một số từ mới, trẻ phải hình dung những gì liên quan đến từ đó. Chẳng hạn như, học về đồ vật trong nhà (household items), trẻ cần hình dung đến bức tường (wall), bóng điện (light), cái bàn (table), chìa khóa (key)… Lối tư duy này sẽ giúp tạo kết nối giữa hai bán cầu não, đồng thời gia tăng liên kết nơron trong não, giúp bé ghi nhớ tốt hơn.
– Association (tăng cường khả năng tư duy kết nối). Bé sẽ làm quen với việc liên kết các hình ảnh lại với nhau nhằm tăng tính logic, khả năng sáng tạo. Chẳng hạn: Đặt một hình tam giác (triangle) lên trên một hình vuông (square) sẽ thành một ngôi nhà (house)… Thực hành và rèn luyện cách này thường xuyên sẽ giúp các em tăng cường khả năng tư duy một cách hệ thống và chặt chẽ hơn.
– Imagination (thúc đẩy khả năng sáng tạo và trí tưởng tượng). Trí tưởng tượng mạnh mẽ giúp bé tạo ra dấu ấn từ những gì mình học, từ đó hình thành khả năng ghi nhớ sâu và lâu hơn. Hãy khuyến khích trẻ tưởng tượng và liên kết những gì liên quan đến cuộc sống xung quanh đồng thời làm nó trở nên sống động hơn khi học. Ví dụ: Tôi là một phi công (I’m a pilot). Tôi đang làm việc (I’m at work). Tôi có thể nhìn thấy mọi thứ trên trái đất (I can see everything on the earth). Tôi rất hạnh phúc (I’m very happy)…
– Thúc đẩy khả năng làm chủ trước đám đông thông qua kỹ năng thuyết trình, thảo luận nhóm. Đây là bước giúp bé chuyển thể những gì đã học trở nên cụ thể và rõ ràng hơn bằng những diễn đạt kết hợp đồng bộ bởi ngôn ngữ hình thể, âm điệu và ngôn từ. Từ đó kiến thức sẽ được đưa vào sâu hơn trong não các em, giúp tăng cường khả năng phản xạ và giao tiếp tiếng Anh một cách tự nhiên.